LATEST ARTICLES

Nợ xấu tăng nhanh, hiện nay ngân hàng nào có nhiều nợ nhóm 5 nhất?

0

Số liệu từ báo cáo tài chính của 28 ngân hàng cho thấy tổng dư nợ có khả năng mất vốn (nợ nhóm 5) đến thời điểm 30/9 lên tới khoảng 66.556 tỷ đồng, giảm gần 8% so với cuối năm 2020.

Trong đó, Agribank chưa công bố báo cáo tài chính quý III nên tạm tính theo số liệu đến 30/6, ngân hàng này đang đứng đầu hệ thống về nợ có khả năng mất vốn với 14.330 tỷ đồng. Mặc dù vậy, con số này đã giảm hơn 12% so với cuối năm 2020, tương đương giảm hơn 2.000 tỷ đồng.

Đứng kế sau Agribank, nợ nhóm 5 của BIDV đến cuối quý III ở mức 13.881 tỷ đồng, giảm 1.809 tỷ so với cuối quý II và giảm 2.644 tỷ so với cuối năm trước.

Ngược với Agribank và BIDV, Vietcombank ghi nhận nợ có khả năng mất vốn tăng 1.941 tỷ đồng trong 9 tháng đầu năm, đưa tổng nợ nhóm 5 vào cuối quý III lên gần 6.279 tỷ đồng. Tương tự, nhóm nợ này tại SHB cũng tăng gần 30%, ở mức 4.937 tỷ.

Ngoài những ngân hàng kể trên thì Sacombank, VietinBank, VIB, ACB, Eximbank và SeABank cũng nằm trong Top 10 ngân hàng có nhiều nợ nhóm 5 nhất tại thời điểm 30/9.

Nợ có khả năng mất vốn của 10 ngân hàng đứng đầu này lên tới 53.084 tỷ đồng, chiếm đến 80% tổng nợ nhóm 5 của 28 ngân hàng khảo sát.

Mặc dù có hàng nghìn tỷ đồng nợ có khả năng mất vốn nhưng đây đều là các nhà băng đứng đầu về dư nợ cho vay. Bởi vậy, tỷ lệ nợ nhóm 5 chỉ dao động trong khoảng 0,3 – 1,5% tổng dư nợ tại thời điểm quý III. Điển hình như VietinBank, tuy có tới hơn 3.500 tỷ nợ có khả năng mất vốn nhưng con số này chỉ chiếm 0,3% tổng dư nợ cho vay.

Nợ xấu tăng nhanh, hiện nay ngân hàng nào có nhiều nợ nhóm 5 nhất? - Ảnh 1.

Trong 28 ngân hàng khảo sát, Techcombank có tỷ lệ Nợ nhóm 5/Tổng dư nợ thấp nhất ở mức 0,1%. Con số này liên tục được duy trì kể từ đầu năm chủ yếu do ngân hàng tích cực sử dụng trích lập dự phòng để xử lý nợ xấu.

Ngoài Techcombank, một số nhà băng khác cũng sở hữu tỷ lệ Nợ nhóm 5/Tổng dư nợ ở mức rất thấp như TPBank (0,2%), VietinBank (0,3%), VPBank (0,3%), MB (0,3%), Bac A Bank (0,4%).

Ngược lại, PG Bank và Viet Capital Bank dù chỉ có vài trăm tỷ nợ nhóm 5 nhưng vẫn chiếm hơn 2% tổng dư nợ cho vay và là hai ngân hàng có tỷ lệ nợ có khả năng mất vốn cao nhất nhì hệ thống.

Sau 9 tháng đầu năm, có tổng cộng 16/28 ngân hàng ghi nhận nợ có khả năng mất vốn tăng so với cuối năm trước. Trong đó, Nam A Bank đứng đầu về tốc độ tăng khi nợ nhóm 5 của ngân hàng này vào cuối quý III ở mức 1.156 tỷ, gấp 2,5 lần hồi đầu năm.

Ngược lại, nợ nhóm 5 của Kienlongbank giảm mạnh nhất, từ mức 1.782 tỷ hồi cuối năm 2020 xuống còn 537 tỷ. Kết quả này có được nhờ ngân hàng hoàn tất xử lý khoản nợ có khả năng mất vốn gần 1.900 tỷ được đảm bảo bởi 176 triệu cổ phiếu STB.

Ngoài Kienlongbank, 11 ngân hàng khác cũng giảm được nhóm nợ này trong 9 tháng đầu năm như VPBank (-47%), VietinBank (-41,4%), TPBank (-29,4%), Eximbank (-26,5%), LienVietPostBank (-21,9%).

Nợ xấu tăng nhanh, hiện nay ngân hàng nào có nhiều nợ nhóm 5 nhất? - Ảnh 2.

* Số liệu Agribank ước tính đến thời điểm 30/6/2021. (Nguồn: Quốc Thụy tổng hợp)

Xu hướng thu hẹp quy mô của nợ nhóm 5 trong 9 tháng đầu năm có sự hỗ trợ rất lớn từ chính sách cho phép giữ nguyên nhóm nợ cho các khách hàng chịu ảnh hưởng dịch Covid-19 của Ngân hàng Nhà nước.

Theo ông Nguyễn Quốc Hùng, Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng, việc Ngân hàng Nhà nước cho phép giữ nguyên nhóm nợ làm cho bức tranh nợ xấu chưa phản ánh đúng thực tế.

Thời gian qua, NHNN đã ban hành 3 Thông tư 01, 03, 14 quy định về cơ cấu nợ, giãn nợ. “Trên 600 nghìn tỷ đã được cơ cấu nợ, nhưng đây mới chỉ là số liệu bước đầu. Từ nay đến cuối năm hoặc sang năm 2022, con số này sẽ còn lên cao nữa, bởi dư nợ bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh lên tới hơn 3 triệu tỷ đồng. Và bản chất nợ được cơ cấu là nợ xấu”, Tổng Thư ký Hiệp hội ngân hàng – ông Nguyễn Quốc Hùng – cho biết tại một hội thảo mới đây.

Ngoài sự hỗ trợ của chính sách, việc đẩy mạnh sử dụng trích lập dự phòng để xử lý nợ xấu cũng giúp nhiều ngân hàng thu hẹp quy mô nợ nhóm 5 trong 9 tháng đầu năm. Theo đó, BIDV đã sử dụng hơn 12.126 tỷ đồng quỹ dự phòng rủi ro tín dụng để xử lý nợ, con số này tại BIDV là hơn 11.900 tỷ, VietinBank (5.100 tỷ), MB (2.955 tỷ),…

Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng rất tích cực xử lý nợ xấu thông qua hình thức rao bán trực tiếp hoặc thanh lý tài sản đảm bảo.

Vào quý I, Kienlongbank đã bán xong 176 triệu cổ phiếu STB – tài sản đảm bảo cho khoản nợ nhóm 5 có giá trị gần 1.900 tỷ. Trong khi theo Chứng khoán Bản Việt, Sacombank có thể đã thanh lý được ba bất động sản thế chấp cho các khoản nợ có trị giá 1.000 tỷ đồng.

Bên khối quốc doanh, Agribank, BIDV và VietinBank cũng liên tục chào bán các khoản nợ có giá trị lên tới hàng trăm, nghìn tỷ đồng trong 9 tháng đầu năm.

Ngân hàng Nhà nước siết mua trái phiếu: Không được “bơm máu”, cổ phiếu bất động sản về đâu?

0

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mới đây đã ban hành Thông tư số 16/2021 quy định việc tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài mua, bán trái phiếu doanh nghiệp (TPDN).

Một trong những quy định đáng chú ý trong thông tư mới là Tổ chức tín dụng chỉ được mua TPDN khi có tỷ lệ nợ xấu dưới 3% theo kỳ phân loại gần nhất theo quy định của NHNN về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động đối với TCTD trước thời điểm mua TPDN.

Ngoài ra, Thông tư mới cũng quy định ba trường hợp TCTD không được mua TPDN gồm: Không được mua trái phiếu doanh nghiệp phát hành trong đó có mục đích để cơ cấu lại các khoản nợ của chính doanh nghiệp phát hành; Không được mua trái phiếu doanh nghiệp phát hành trong đó có mục đích để góp vốn, mua cổ phần tại doanh nghiệp khác; Không được mua trái phiếu doanh nghiệp phát hành trong đó có mục đích để tăng quy mô vốn hoạt động.

Giới đầu tư đánh giá Thông tư này đánh trực diện vào đối tượng mua trái phiếu doanh nghiệp của các doanh nghiệp bất động sản. Thực tế, doanh nghiệp bất động sản là đối tượng phát hành trái phiếu doanh nghiệp lớn nhất bởi nhu cầu vốn đầu tư lớn nhưng bị siết nguồn vay từ các tổ chức tín dụng. 

Phiên 22/11, thị trường tài chính chứng kiến màn đổ sàn la liệt của nhóm cổ phiếu “nóng”, cổ phiếu đầu cơ trong đó có đông đảo các doanh nghiệp bất động sản với hơn 200 mã giảm sàn. Nhiều cổ phiếu bất động sản giảm sàn tắc thanh khoản như: DIG, KBC, NLG, IJC, IDJ, HDC, DPG, CII, CKG, DXG… 

Doanh nghiệp bất động sản phát hành trái phiếu lớn nhất, khách hàng mua là các ngân hàng/công ty chứng khoán

Theo thống kê của Công ty Chứng khoán SSI, trong quý 3, các doanh nghiệp bất động sản dẫn đầu thị trường trái phiếu khi phát hành 85,5 nghìn tỷ đồng trái phiếu, giảm khoảng 4% so với quý 2 và cùng kỳ năm ngoái. Đặc biệt, sự kiện “Evergrande” cũng không làm thị trường trái phiếu bất động sản kém sôi động hơn khi chỉ tính riêng trong tháng 9, tổng giá trị trái phiếu bất động sản phát hành là 30,4 nghìn tỷ đồng – chiếm 36% tổng lượng phát hành trong Quý. 

Tính chung 9 tháng 2021, các doanh nghiệp bất động sản phát hành 201 nghìn tỷ đồng trái phiếu với lãi suất bình quân là 10,36%/năm, kỳ hạn bình quân ở mức 3,8 năm. Nhìn chung, kỳ hạn bình quân của trái phiếu bất động sản trong 2 năm gần đây là khoảng 3,5 – 4 năm, do vậy áp lực trả nợ gốc sẽ tăng dần trong giai đoạn 2023 – 2025. 

Các doanh nghiệp phát hành nhiều nhất trong quý vừa qua là Vingroup, Novaland, Osaka Garden, Hưng Thịnh Land. Nếu loại trừ trái phiếu phát hành quốc tế của Vinpearl và Novaland, lãi suất bình quân các trái phiếu bất động sản trong quý 3/2021 là 10,34%/năm, kỳ hạn bình quân là 4,1 năm.

Một số doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên sàn có mức phát hành trái phiếu doanh nghiệp lớn trong 9 tháng năm nay đó là, Novaland 12.000 tỷ đồng, VHM 9.082 tỷ, DXG 468 tỷ, Phát Đạt là 2.716 tỷ đồng, NLG có 1.450 tỷ, HDG là 1.010 tỷ đồng. 

Ngân hàng Nhà nước siết mua trái phiếu: Không được bơm máu, số phận cổ phiếu bất động sản về đâu - Ảnh 1.
Ngân hàng Nhà nước siết mua trái phiếu: Không được bơm máu, số phận cổ phiếu bất động sản về đâu - Ảnh 2.

Một số doanh nghiệp phát hành trái phiếu lớn 9 thánh năm nay

Cơ cấu mua trái phiếu doanh nghiệp trên thị trường sơ cấp chủ yếu thuộc về ngân hàng, công ty chứng khoán, và một số lượng nhỏ các nhà đầu tư cá nhân. Sau khi Nghị định 153/2020 có hiệu lực, trong đó quy định điều kiện nhà đầu tư trái phiếu doanh nghiệp phải là nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp (có tài sản trên 2 tỷ đồng), tỷ trọng các nhà đầu tư cá nhân đã giảm mạnh trong 9 tháng đầu năm.

Số liệu FiinGroup cũng cho biết cơ cấu trái phiếu chiếm khoảng 46% tổng nợ vay của các doanh nghiệp bất động sản. Đặc biệt, quy mô tín dụng qua kênh trái phiếu doanh nghiệp đã trở nên khá lớn, chiếm khoảng 12% dư nợ tín dụng ngân hàng và khoảng 15% GDP (nếu loại bỏ phần trái phiếu ngân hàng thì giá trị lưu hành trái phiếu chiếm khoảng 7,8% GDP). Trong khi tín dụng ngân hàng được kiểm soát chặt chẽ hơn với những quy định cụ thể thì rủi ro đối với trái phiếu doanh nghiệp lớn hơn rất nhiều. Thực tế trên các thị trường vốn trên thế giới, tỷ lệ vỡ nợ trong vòng 5 năm hiện ở mức khá cao: 15% với các nhà phát hành có mức xếp hạng có tính đầu cơ (dưới mức BBB).

FiinGroup cũng lưu ý ngân hàng và bất động sản có mức độ phụ thuộc nhau rất lớn. Do đó, đây là lúc ngân hàng và các nhà đầu tư tổ chức cần rà soát và đánh giá kỹ lưỡng về chu kỳ của ngành bất động sản và đưa ra các biện pháp hỗ trợ và tái cấu trúc tùy theo đặc thù của từng phân khúc cho vay cũng như đặc thù của từng chủ đầu tư, từng dự án. Đối với các khoản tín dụng mới, hãng nghiên cứu này cho rằng, các định chế tài chính cần thẩn trọng trong việc lựa chọn các dự án và chủ đầu tư bất động sản để phù hợp với khẩu vị rủi ro của mình.

Các doanh nghiệp bất động sản đẩy mạnh huy động vốn trên sàn chứng khoán

Ngoài bị siết vốn/trái phiếu doanh nghiệp từ phía NHNN, Bộ Tài Chính mới đây đã ban hành dự thảo Thông tư nhằm kiểm soát chặt chẽ hơn hoạt động phát hành TPDN. Trong đó, đối với hoạt động phát hành TPDN riêng lẻ, điều khoản đáng chú ý nhất là việc quy định trái phiếu của công ty không phải công ty đại chúng phải có tài sản đảm bảo hoặc bảo đảm thanh toán toàn bộ gốc, lãi khi đến hạn. 

Có thể thấy ngân hàng là đối tượng rót vốn lớn cho các doanh nghiệp bất động sản thông qua kênh trái phiếu doanh nghiệp. Việc siết nhóm này mua trái phiếu doanh nghiệp với những quy định khắt khe hơn có thể ảnh hưởng đến nguồn vốn của nhiều doanh nghiệp bất động sản. 

Về vấn đề này, trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Thế Minh, Giám đốc Phân tích Công ty Chứng khoán Yuanta cho hay: “Siết lại trái phiếu doanh nghiệp, đây là điều đúng đắn. Từ xưa tới giờ, NHNN không muốn dòng tiền chảy vào bất động sản. Thời gian qua dân đầu tư đầu cơ bất động sản quá mạnh, trào lưu đầu cơ đất – bất động sản rất lớn, có trường hợp một ngân hàng có 4 cá nhân dư nợ vay tới 1.000 tỷ đồng ngang với cả dư nợ của các doanh nghiệp tầm trung trên sàn mà đây là dư nợ cá nhân nên rủi ro rất lớn. Tôi ủng hộ quy định siểt nguồn tín dụng này để tiền chảy vào sản xuất kinh doanh phục hồi kinh tế tốt hơn. Từ xưa tới nay tín dụng ngân hàng chảy vào bất động sản gây nhiều hệ luỵ xấu cho kinh tế”. 

Về phía các ngân hàng, ông Minh cũng cho rằng các ngân hàng không dám cho vay vì sợ vướng nợ xấu dù gặp áp lực giải ngân tín dụng. 

Theo vị chuyên gia này, các doanh nghiệp bất động sản nói chung đang gặp khó về nguồn vốn bổ sung từ phía ngân hàng và cả qua kênh trái phiếu. Họ chỉ còn đứng trước lựa chọn duy nhất là đánh cổ phiếu trên sàn và phát hành thêm. Ngoài ra còn phương án bán dự án để có nguồn vốn lưu động phục vụ hoạt động của doanh nghiệp. Tuy vậy, với bán dự án thì dự án phải có tiềm năng khả thi và phải tìm được đối tượng chuyển nhượng, trong bối cảnh đại dịch việc này dường như gặp khó khăn hơn. 

Do đó, chỉ còn cách các doanh nghiệp bất động sản phát hành thêm để hút tiền. Doanh nghiệp bất động sản bản chất đang thiếu tiền, dù báo lãi nhưng dòng tiền kinh doanh đang âm nặng, thanh khoản đang có vấn đề lớn, cần dòng vốn bơm vào hay còn gọi là bơm máu. 

“Các doanh nghiệp bất động sản nhỏ chỉ còn con đường duy nhất đó là tăng vốn, mà muốn tăng vốn phát hành thêm giá cổ phiếu buộc phải tăng và lợi nhuận doanh nghiệp phải tốt. Đó là ở góc độ doanh nghiệp, còn ở góc độ cổ phiếu, nếu như tăng giá quá nóng mà game không thành công, dòng tiền sẽ bị rút ra mạnh thì những nhà đầu tư vào sau, ai cầm cục than cuối sẽ chịu rủi ro lớn”, ông Minh nói.

Vị này nhấn mạnh các doanh nghiệp có quỹ đất lớn, nợ vay cao đang gặp vấn đề trong lúc thị trường bất động sản mất thanh khoản như hiện nay. Do đó, lợi nhuận chủ yếu được thực hiện từ việc bán buôn, chuyển nhượng dự án, đầu tư tài chính. Việc này được tiến hành để kịp ghi nhận lợi nhuận trong quý 4 và làm hồ sơ tăng vốn vào quý 1/2022. Còn về thị trường bất động sản nói chung, thanh khoản sẽ hồi phục mạnh từ năm 2022. 

Thực tế, với các doanh nghiệp bất động sản – xây dựng trên sàn sau đà tăng nóng của cổ phiếu vừa qua rất nhiều doanh nghiệp đã công bố huy động trái phiếu/tăng vốn: BCG, DPG, KBC, C4G,… Đáng chú ý, như trường hợp của DPG, công ty đã dùng tới 19 triệu cổ phiếu sau khi tăng giá gần gấp 3 để làm tài sản đảm bảo phát hành 300 tỷ đồng trái phiếu. 

Phương pháp Wyckoff là gì? 3 quy luật áp dụng tăng cao tỉ lệ thắng

0

Hầu hết chúng ta đều đã được tiếp cận 2 cách phân tích thị trường khi bắt đầu giao dịch forex, đó là phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật. Mỗi phương pháp lại có rất nhiều công cụ khác nhau được sử dụng, nhưng nhìn chung, phân tích cơ bản là để giải thích nguyên nhân gây ra những biến động trên thị trường còn phân tích kỹ thuật thì tìm ra thời điểm khi nào biến động xảy ra và mức độ biến động là bao nhiêu.

Ngoài 2 phương pháp quen thuộc trên thì vẫn còn một cách tiếp cận nữa để phân tích thị trường, đó là phương pháp Wyckoff. Phương pháp này không đơn giản chỉ là một chỉ báo kỹ thuật mà nó còn bao gồm nhiều nguyên tắc, lý thuyết và kỹ thuật giao dịch, cho phép nhà đầu tư ra quyết định hợp lý hơn thay vì hành động theo cảm tính.

Có thể nói, phương pháp Wyckoff là sự kết hợp hoàn hảo cả 2 trường phái phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật.

Trong bài viết lần này, chúng tôi sẽ tập trung giải thích khái niệm phương pháp Wyckoff, các nguyên lý, quy luật và cách phân tích thị trường của phương pháp này.

Vài nét về cha đẻ của phương pháp Wyckoff

Wyckoff tên đầy đủ là Richard Demille Wyckoff, (02/11/1873 – 07/03/1934). Vào năm 15 tuổi, ông bắt đầu sự nghiệp trên thị trường tài chính bằng vị trí nhân viên nhập lệnh cho một công ty môi giới ở New York. Sau hơn 10 năm làm việc và tích lũy kinh nghiệm, ông đã tự mở một công ty môi giới riêng của mình và từ đó ông cũng bắt đầu tò mò về logic đằng sau những hành động của thị trường.

Thông qua việc trò chuyện, phỏng vấn và nghiên cứu về các nhà giao dịch thành công cùng thời như Jesse Livermore, E. H. Harriman, James R. Keene, Otto Kahn, J.P. Morgan…ông đã phát triển phương pháp Wyckoff bằng cách hệ thống hóa các phương pháp giao dịch hay nhất của những “tượng đài” này, cộng với kinh nghiệm và phương pháp giao dịch của mình thành các quy luật, nguyên tắc, kỹ thuật giao dịch, quản lý tiền và kỷ luật tinh thần.

 

Ông đã vận dụng phương pháp của mình vào thị trường tài chính, cụ thể là chứng khoán và gia tăng được tài sản của mình thành một khối tài sản rất lớn, bao gồm hơn 9 mẫu đất và một dinh thự tại New York. (Theo wikipedia). Sau khi giàu có hơn nhờ phương pháp giao dịch của mình, ông bắt đầu niềm đam mê giảng dạy và xuất bản.

Wyckoff là nhà sáng lập, đồng thời là biên tập viên của tờ “Tạp chí Phố Wall” trong gần 20 năm, một tờ báo đã từng có thời điểm đạt được 200,000 người đăng ký. Vào năm 1930, ông thành lập một Học viện đào tạo, sau này đã trở thành Học viên Wyckoff Mỹ.

Học viện này cung cấp các khóa học đào tạo về lý thuyết và cách tiếp cận thực tế của phương pháp giao dịch Wyckoff, bao gồm việc lựa chọn cổ phiếu tiềm năng, cách vào lệnh Mua hoặc Bán, phân tích các giai đoạn của biến động giá… Ngày nay, các khóa học này vẫn được duy trì bởi những học trò của ông như Hank Pruden hay Bob Evans.

Mặc dù phương pháp Wyckoff ban đầu được ứng dụng vào cổ phiếu, nhưng ngày nay, phương pháp này vẫn được sử dụng trên các loại thị trường tài chính khác nhau như tiền tệ, hàng hóa, trái phiếu và các thị trường tài chính trực tuyến như forex hay tiền điện tử. Cho đến tận bây giờ, phương pháp Wyckoff vẫn đang là một phần quan trọng trong chương trình đào tạo sau đại học của Golden Gate University ở San Francisco, Mỹ và được rất nhiều nhà đầu tư vận dụng thành công vào các giao dịch hằng ngày của mình trên thị trường.

Phương pháp Wyckoff là gì?

Phương pháp Wyckoff là một loạt các quy luật, nguyên tắc và kỹ thuật giao dịch được thiết kế nhằm giúp trader đánh giá tổng thể thị trường, tìm ra những cổ phiếu có lợi nhuận tiềm năng và xác định mục tiêu giao dịch.

Từ nền tảng của phương pháp Wyckoff, đã có rất nhiều mô hình, phương pháp giao dịch ra đời, trong đó có 2 phương pháp rất nổi tiếng được vận dụng phổ biến trên thị trường, đó là mô hình Spring and Upthrust và phương pháp VSA (Phân tích khối lượng và giá). Tuy nhiên, trong bài viết này, chúng tôi không đi sâu phân tích 2 phương pháp đó mà chủ yếu giới thiệu đến các bạn các yếu tố nòng cốt của phương pháp Wyckoff, giúp các bạn bước đầu hiểu rõ hơn về trường phái phân tích đặc biệt này.

Những nội dung tiếp theo, chúng tôi sẽ trình bày lần lượt các yếu tố nòng cốt của phương pháp Wyckoff, là các quy luật, nguyên tắc và kỹ thuật giao dịch, bao gồm:

  • 3 quy luật cơ bản của phương pháp Wyckoff
  • Chu kỳ giá Wyckoff (Wyckoff Price Cycle)
  • Sơ đồ Wyckoff
  • Khái niệm “Composite man”
  • 5 bước tiếp cận thị trường

3 quy luật của phương pháp Wyckoff

Phương pháp luận của Wyckoff dựa trên 3 quy luật, ảnh hưởng đến toàn bộ các khía cạnh của phân tích và nhận định thị trường, bao gồm việc xác định xu hướng hiện tại và tương lai của từng cổ phiếu tiềm năng và của toàn thị trường, lựa chọn cổ phiếu tốt nhất để giao dịch, xác định phạm vi giao dịch và dự đoán mục tiêu lợi nhuận theo xu hướng từ hành vi của giá trong một biên độ nhất định.

Quy luật Cung – Cầu (The law of supply and demand)

Quy luật cung- cầu xác định chiều hướng của giá cả. Đây là nguyên tắc trọng tâm của phương pháp Wyckoff. Khi cầu lớn hơn cung thì giá tăng, ngược lại khi cung lớn hơn cầu thì giá giảm. Các bạn có thể hình dung quy luật này một cách đơn giản như sau: cầu chính là người mua, cung là người bán, khi số lượng người mua nhiều hơn người bán, nghĩa là nhu cầu sử dụng một loại hàng hóa cao thì giá hàng hóa sẽ tăng lên, ngược lại, khi số lượng người bán nhiều hơn người mua, nghĩa là nhu cầu giảm, giá hàng hóa giảm.

Đây cũng là quy luật chung và cơ bản nhất của thị trường tài chính chứ không riêng gì phương pháp Wyckoff.

Dựa vào quy luật này, nhà đầu tư có thể nghiên cứu sự cân bằng giữa cung và cầu bằng việc so sánh các mức giá và khối lượng giao dịch tương ứng. Mặc dù đây là một quy luật khá đơn giản và dễ hiểu nhưng để đánh giá chính xác sự cân bằng cung cầu trên biểu đồ và hiểu được tác động của nó đến thị trường là điều khó khăn, cần nhiều thời gian để nghiên cứu và luyện tập.

Quy luật Nhân – Quả (The law of cause and effect)

Quy luật này giúp xác định mục tiêu giá thông qua việc đánh giá mức độ tiềm năng của một xu hướng cụ thể.

Để mô tả quy luật này, Wyckoff sử dụng biểu đồ Điểm và Hình (Point and Figure chart), trong đó, nguyên nhân được đo lường bằng số điểm đi ngang trong biểu đồ (giai đoạn tích lũy/phân phối) và hệ quả chính là khoảng cách giá dịch chuyển tương ứng với số điểm đó (sau khi đã thoát ra khỏi giai đoạn tích lũy/phân phối). Nội dung này sẽ được trình bày rõ hơn ở phần sau.

Nếu giá đi ngang càng lâu (tích lũy/phân phối càng lâu) thì khi giá vượt ra khỏi giai đoạn đó sẽ đi theo xu hướng càng mạnh.

Quy luật Nỗ lực –  Kết quả (The law of Effort and Result)

Quy luật Nỗ lực – Kết quả đưa ra các cảnh báo về khả năng thay đổi của một xu hướng trong tương lai gần. Sự khác biệt giữa giá và khối lượng giao dịch chính là một trong những tín hiệu quan trọng cho biết xu hướng có thể dừng lại hoặc đảo chiều.

 

3 phiên giao dịch liên tiếp có khối lượng lớn và tăng dần (nỗ lực lớn) xuất hiện sau một đợt tăng giá mạnh nhưng giá lại tăng với biên độ rất thấp, không phá được mức giá cao nhất trước đó. Kết quả là giá đã đảo chiều ngay sau đó.

Chu kỳ giá Wyckoff (Wyckoff Price Cycle)

Theo Wyckoff, nhà đầu tư có thể thấu hiểu và dự đoán thị trường thông qua phân tích chi tiết cung và cầu, được xác định bằng việc nghiên cứu hành động giá, khối lượng và thời gian. Ông đã mô tả một sơ đồ về các giai đoạn diễn ra trong một chu kỳ giá, từ đó xác định các thời điểm vào lệnh hợp lý.

Theo đó, thời điểm để vào một lệnh Buy là ở cuối quá trình chuẩn bị cho một đợt tăng giá (cuối giai đoạn tích lũy) và vào lệnh Sell ở cuối quá trình chuẩn bị cho đợt giảm giá (kết thúc một giai đoạn phân phối).

4 giai đoạn của chu kỳ giá hay sự biến động giá

 

Giai đoạn Tích lũy

Là giai đoạn mà những “ông lớn” trên thị trường bắt đầu tích lũy tài sản. Một số tiền lớn từ những thế lực này được đổ vào thị trường một cách khéo léo và chậm rãi để làm cho giá biến động không quá nhiều. Trong giai đoạn tích lũy, thị trường có xu hướng đi ngang.

Giai đoạn Tăng giá

Khi thị trường phá vỡ giai đoạn tích lũy sẽ bắt đầu giai đoạn tăng giá. Sau khi đã nắm được một lượng cổ phiếu đủ lớn, cộng thêm lực bán đã suy yếu, phe mua nhanh chóng đẩy giá đi lên, xu hướng mới được hình thành.

Giai đoạn tăng giá sẽ thúc đẩy những người đang ở bên ngoài thị trường nhảy vào mua cổ phiếu, khiến cho cầu lớn hơn cung, thị trường đẩy giá lên cao hơn nữa.

Tuy nhiên, trong giai đoạn tăng giá này, không nhất thiết là lúc nào giá cũng đi lên mà thị trường sẽ có những giai đoạn tích lũy ngắn (tái tích lũy, giai đoạn tạm nghỉ) hoặc những đợt suy thoái nhỏ (điều chỉnh giảm), khi đó, giá sẽ đi ngang hoặc giảm xuống trong một khoảng thời gian ngắn, trước khi tiếp tục giai đoạn tăng giá này.

Giai đoạn Phân phối

Sau khi nhu cầu mua cổ phiếu đã thỏa mãn, những nhà đầu tư có lợi nhuận cao bắt đầu phân phối tài sản của mình cho những người nhập cuộc muộn bằng cách bán cổ phiếu ra để chốt lời. Giai đoạn này cũng được những “ông lớn” thực hiện một cách khéo léo để giá không giảm nhanh và thị trường lúc này cũng được thể hiện bằng một xu hướng đi ngang.

Giai đoạn Giảm giá

Những “ông lớn” bắt đầu bán cổ phiếu ra nhiều hơn, đẩy thị trường đi xuống, điều này thúc đẩy những nhà đầu tư khác cũng bán cổ phiếu ra làm cho lượng cung lớn hơn lượng cầu dẫn đến giá giảm.

So với giai đoạn tích lũy và tăng giá thì giai đoạn giảm giá diễn ra nhanh hơn với cường độ mạnh hơn vì trong giai đoạn này, nhà đầu tư có xu hướng muốn bán nhanh tài sản để thoát khỏi vị thế của mình.

Tương tự giai đoạn tăng giá, thị trường không phải lúc nào cũng đi xuống trong giai đoạn giảm giá mà sẽ có những khoảng thời gian ngắn thị trường sẽ tái phân phối hoặc điều chỉnh tăng (hay còn gọi là phục hồi tạm thời) trước khi tiếp tục xu hướng giảm.

Khi kết thúc giai đoạn giảm giá, thị trường sẽ lại tiếp tục chu kỳ bằng một giai đoạn tích lũy mới.

Sơ đồ Wyckoff trong 2 giai đoạn quan trọng của chu kỳ giá: Tích lũy và Phân phối

Một trong những mục tiêu lớn nhất của phương pháp Wyckoff chính là tìm ra điểm vào lệnh hợp lý sao cho tỷ lệ Risk:Reward là tốt nhất. Wyckoff định nghĩa Trading range (TR – Phạm vi giao dịch) là nơi là mà một xu hướng (tăng hoặc giảm) trước đó bị dừng lại và thị trường tồn tại sự cân bằng tương đối giữa cung và cầu. Trong phạm vi giao dịch, các “thế lực lớn” trên thị trường chuẩn bị cho chiến lược tăng giá hoặc giảm giá của họ trong các giai đoạn tích lũy và phân phối.

TR của giai đoạn tích lũy hay phân phối thì các hoạt động mua và bán đều diễn ra rất tích cực, tuy nhiên, trong giai đoạn tích lũy thì cổ phiếu được mua vào nhiều hơn so với bán ra và giai đoạn phân phối thì cổ phiếu được bán ra nhiều hơn so với mua vào. Mức độ tích lũy hoặc phân phối sẽ xác định cường độ phá vỡ của giá ra khỏi vùng TR.

Một trader sử dụng phương pháp Wyckoff thành công khi họ phán đoán chính xác hướng và cường độ của giá khi ra khỏi vùng TR. Phương pháp Wyckoff sẽ cung cấp các hướng dẫn để trader có thể nhận định các sự kiện, hành vi giá trong từng giai đoạn tích lũy và phân phối, từ đó xác định mục tiêu giá trong xu hướng tiếp theo. Và để làm được điều này, phương pháp Wyckoff đã chia giai đoạn tích lũy và phân phối thành nhiều giai đoạn nhỏ khác nhau, đồng thời mô tả các sự kiện, hành vi của giá trong từng giai đoạn nhỏ đó.

Sơ đồ Wyckoff trong giai đoạn Tích lũy

 

Các sự kiện diễn ra trong giai đoạn Tích lũy

  • PS (preliminary support – hỗ trợ cơ sở): cho thấy sự xuất hiện của một lượng mua đáng kể sau một đợt giảm giá dài hạn, báo hiệu xu hướng giảm có thể sắp kết thúc. Tuy nhiên, lượng mua không đủ để ngăn chặn giá tiếp tục đi xuống.
  • SC (Selling Climax – Cao điểm Bán): đây là thời điểm mà áp lực bán được đẩy lên đỉnh điểm. Thông thường, tại điểm này, giá sẽ đóng cửa phía trên SC, phản ánh hành động bắt đầu mua vào của những thế lực lớn.
  • AR (Automatic Rally – Phục hồi tự động): áp lực bán đã giảm đi đáng kể cộng với lực mua mới đã đẩy giá lên cao. Mức giá cao nhất của đợt phục hồi này chính là đường biên trên của phạm vi giao dịch TR trong giai đoạn tích lũy. Đường biên dưới chính là SC.
  • ST (Secondary Test – Thử nghiệm thứ cấp): là lúc mà thị trường test lại xem xu hướng giảm đã thực sự kết thúc hay chưa. Khi một đáy được hình thành, nghĩa là giá tiếp cận vùng hỗ trợ của SC và đi lên thì khối lượng giao dịch và chênh lệch giá sẽ giảm đáng kể. Có thể có một, hai hoặc nhiều ST sau một SC.
  • Spring (Nhảy vọt): đây thường là cái bẫy do những thế lực lớn tạo ra để đánh lừa nhà đầu tư, khiến họ tin rằng thị trường sẽ giảm xuống và bán cổ phiếu ra, điều này sẽ giúp những ông lớn đó có thể mua vào với giá rất thấp trước khi thị trường sẽ tăng giá lại. Trong giai đoạn tích lũy, Spring không phải là yếu tố bắt buộc, tức là nó có thể không xảy ra do vùng hỗ trợ SC có lực cản mạnh.
  • Test (Kiểm tra): các thế lực lớn thường test lại nguồn cung trong suốt TR hoặc tại các vị trí quan trọng của giai đoạn tăng giá. Nếu nguồn cung tăng đáng kể khi test chứng tỏ thị trường chưa sẵn sàng cho xu hướng tăng. Một lần test thành công, giá sẽ tạo đáy cao hơn và khối lượng giao dịch sẽ giảm.
  • LPS (Last Point of Support – Điểm hỗ trợ gần nhất): khi thị trường bắt đầu đạt được khối lượng giao dịch và biến động giá lớn, LPS xuất hiện làm cho thị trường giảm sâu hơn, giống như lấy đà để chuẩn bị bức phá lên mức cao hơn. Trong sơ đồ giai đoạn tích lũy, có thể có nhiều hơn một điểm LPS.
  • SOS (Sign of Strength – Dấu hiệu của sức mạnh): khi khối lượng giao dịch và biến động giá ngày càng tăng thì giá sẽ phá vỡ ra khỏi phạm vi TR. Thông thường, SOS sẽ xuất hiện sau một Spring, đây là cách xác nhận lại hành vi của giá trước đó.
  • BU (Back-up): là một thuật ngữ được đặt ra bởi Robert Evans, một giáo viên hàng đầu của phương pháp Wyckoff từ những năm 1930-1960. Theo ông, BU có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như pullback hoặc là một TR mới ở mức cao hơn trước khi hình thành SOS.

5 giai đoạn nhỏ trong sơ đồ tích lũy

Giai đoạn A: đánh dấu sự chậm lại của xu hướng giảm trước đó. Tại đây, lực cung vẫn đang chiếm ưu thế hơn so với lực cầu. Tuy nhiên, lực cung đang suy yếu dần, điều này đã được minh chứng bằng sự xuất hiện của PS và SC.

Giai đoạn B: đây chính là giai đoạn xây dựng nên “nguyên nhân” trong quy luật nhân -quả của phương pháp Wyckoff. Ở giai đoạn này, các thế lực lớn trên thị trường bắt đầu tích lũy cổ phiếu  với giá thấp để đón đầu cho một xu hướng tăng mới. Quá trình tích lũy có thể kéo dài trong thời gian khá lâu.

Giai đoạn C: giai đoạn này thực hiện một bài test mang tính chất quyết định (Spring), giúp nhà đầu tư xác định chắc chắn liệu rằng cổ phiếu đã sẵn sàng tăng giá hay chưa. Trong phương pháp Wyckoff, khi một đợt spring diễn ra thành công sẽ mang lại cho nhà đầu tư cơ hội giao dịch với xác suất thành công cao. Một đợt spring với khối lượng thấp chứng tỏ cổ phiếu đã sẵn sàng tăng giá, đây chính là thời điểm tốt để nhà đầu tư vào một lệnh Buy.

Giai đoạn D: đánh dấu thời điểm giá phá vỡ ngưỡng kháng cự của vùng TR, bắt đầu một xu hướng tăng mới. Trong giai đoạn này thường xảy ra các đợt pullback, BU hoặc LPS trước khi hình thành SOS, đây là những điểm tốt để vào thêm các lệnh Buy tiềm năng.

Giai đoạn E: đây là giai đoạn mà giá đã thoát ra khỏi TR một cách rõ ràng nhất, lực cầu cao hơn so với lực cung. Tuy nhiên, các TR mới ở mức cao hơn có thể xảy ra tại bất kỳ thời điểm nào trong giai đoạn này, nhưng thường với thời gian ngắn hơn (chính là giai đoạn tái tích lũy đã nhắc đến ở phần trên), các TR mới này được xem là bước đệm để giá tăng cao hơn.

Sơ đồ Wyckoff trong giai đoạn Phân phối

 

TR trong giai đoạn phân phối cũng được chia thành 5 giai đoạn, các sự kiện diễn ra trong 5 giai đoạn đó có xu hướng ngược lại với giai đoạn tích lũy. Các bạn có thể phân tích ngược lại với sơ đồ Wyckoff tích lũy như phần trên.

Khái niệm “Composite man”

Ở những phần trên, chúng tôi đã nhắc đến rất nhiều lần những từ như “ông lớn” hay “thế lực lớn” thì đó chính là những cách nói khác của composite man trên thị trường. Đây cũng là khái niệm nền tảng của phương pháp Wyckoff.

Trên thực tế, composite man chính là các thực thể có sức ảnh hưởng lớn đến thị trường như các ngân hàng, công ty đầu tư, tổ chức tín dụng và các định chế tài chính khác. Theo Wyckoff, tất cả các biến động trên thị trường và những biến động của từng cổ phiếu riêng lẻ đều là kết quả của sự tác động đến từ composite man.

Họ cố gắng thao túng thị trường, làm mọi cách để mua được cổ phiếu với giá rẻ và bán ra với giá cao. Một khi nhà đầu tư hiểu và tham gia vào thị trường với cùng chiến tuyến với composite man thì các chiến lược thao túng của composite man sẽ mang lại lợi nhuận cao cho nhà đầu tư.

Bằng việc nghiên cứu và thực hành thường xuyên, nhà đầu tư có thể thấu hiểu động cơ của composite man thông qua hành vi của giá được thể hiện trên biểu đồ. Làm được điều đó, nhà đầu tư sẽ sớm phát hiện các cơ hội mua bán tốt hơn so với phần lớn những người khác.

5 bước tiếp cận thị trường

Phương pháp Wyckoff đề cập đến quy trình 5 bước để tiếp cận thị trường, lựa chọn cổ phiếu tiềm năng và tham gia giao dịch.

Bước 1: Xác định xu hướng

Xác định xu hướng bao gồm việc nhận định xu hướng hiện tại và dự đoán hướng đi của giá trong tương lai thông qua việc phân tích cấu trúc thị trường và mối quan hệ cung-cầu. Đánh giá về xu hướng trong tương lai sẽ giúp bạn quyết định có nên tham gia vào thị trường hay không và tham gia ở vị thế nào, mua hay bán?

Bước 2: Lựa chọn cổ phiếu thuận xu hướng

Trong một xu hướng tăng, lựa chọn những cổ phiếu có mức tăng tương đối so với thị trường hay nói cách khác là so với chỉ số của thị trường. Đó là những cổ phiếu có phần trăm tăng cao hơn khi thị trường phục hồi và phần trăm giảm thấp hơn hoặc vẫn tăng khi thị trường hiệu chỉnh.

Bước 3: Lựa chọn cổ phiếu có “Nguyên nhân” tối thiểu bằng với mục tiêu giá của bạn

Phương pháp của Wyckoff xác định mục tiêu giá dựa vào độ dài của giai đoạn tích lũy/phân phối (khi thị trường đi ngang). Trong quy luật Nhân-quả, số P&F ( trong Point & Figure chart) đi ngang trong phạm vi giao dịch thể hiện “nhân” và mức độ chuyển động tiếp theo của giá chính là “quả” cho cả giao dịch ngắn hạn hay dài hạn. Chính vì vậy, nếu là một nhà đầu tư dài hạn, các bạn nên chọn những cổ phiếu đang trong giai đoạn tích lũy hoặc tái tích lũy đủ lâu để có thể đáp ứng được mục tiêu giá của mình.

Bước 4: Xác định khả năng di chuyển của giá

Bước này tập trung đánh giá liệu rằng giá đã sẵn sàng phá vỡ phạm vi giao dịch TR để tăng lên sau đợt tích lũy hoặc giảm xuống sau đợt phân phối hay chưa? Để nhận định khả năng di chuyển của giá, Wyckoff đã đề xuất 9 thử nghiệm (các tín hiệu) mua và bán. Các thử nghiệm này là các nguyên tắc cụ thể, giúp xác định khi nào một TR sắp kết thúc và một xu hướng mới (tăng giá hoặc giảm giá) sắp bắt đầu. 9 thử nghiệm này liên quan đến việc giá hoàn thành các sự kiện diễn ra trong sơ đồ tích lũy/phân phối như đã trình bày ở phần trên, cụ thể:

9 thử nghiệm mua trong giai đoạn tích lũy: (bao gồm các điều kiện và biểu đồ được sử dụng)

  • Đã hoàn thành mục tiêu giảm giá, P&F Chart.
  • Hình thành PS, SC và ST, Bar và P&F Chart.
  • Xuất hiện các hoạt động tăng giá: khối lượng giao dịch tăng trong giai đoạn phục hồi và giảm khi hiệu chỉnh), Bar Chart.
  • Trendline của xu hướng giảm bị phá vỡ, Bar hoặc P&F Chart.
  • Giá tạo đáy cao hơn, Bar và/hoặc P&F Chart.
  • Giá tạo đỉnh cao hơn, Bar và/hoặc P&F Chart.
  • Cổ phiếu mạnh hơn thị trường (tăng giá cao hơn khi phục hồi và phản ứng tốt hơn so với chỉ số của thị trường), Bar Chart.
  • Hình thành cơ sở (đường giá nằm ngang), nghĩa là thời gian tích lũy đủ lâu để tạo ra sự bức phá trong tương lai, Bar và/hoặc P&F Chart.
  • Ước tính lợi nhuận tiềm năng cao gấp 3 lần mức cắt lỗ, Bar và P&F Chart.

Ví dụ về 9 thử nghiệm mua trong giai đoạn tích lũy trên cổ phiếu Apple:

 

9 thử nghiệm bán trong giai đoạn phân phối được thực hiện ngược lại.

Bước 5: Xác định thời gian tham gia vào thị trường

Wyckoff cho rằng, chỉ nên tham gia vào thị trường khi các yếu tố của cổ phiếu riêng lẻ thỏa mãn được ¾ trở lên sự hài hòa với xu hướng chung của thị trường. Được như thế, giao dịch của bạn sẽ thành công hơn nhờ sức mạnh của tổng thể thị trường. Ngoài ra, các nguyên tắc cụ thể trong các thử nghiệm của Wyckoff, cộng với biểu hiện về hành vi của giá trong phạm vi giao dịch TR sẽ giúp nhà đầu tư xác định điểm vào lệnh, cắt lỗ và chốt lời hợp lý.

Tổng kết

Mặc dù các quy luật và nguyên tắc của phương pháp Wyckoff khá đơn giản nhưng để tiếp cận chúng một cách có hiệu quả trên thị trường là vô cùng khó khăn.

Trong phạm vi bài viết lần này, chúng tôi chỉ trình bày những thành tố cơ bản tạo nên phương pháp Wyckoff, hy vọng các bạn sẽ hiểu được bản chất và nền tảng của phương pháp này, từ đó vận dụng chúng vào quy trình phân tích thị trường và lựa chọn cổ phiếu tiềm năng.

Trong những bài viết sắp tới, chúng tôi sẽ giới thiệu đến các bạn những phương pháp, mô hình giao dịch cụ thể được hình thành từ phương pháp Wyckoff mà những phương pháp hay mô hình đó có thể áp dụng được trên nhiều thị trường tài chính khác nhau, trong đó có forex.

Nợ xấu của 27 ngân hàng trên sàn chứng khoán vượt 110.000 tỷ đồng, áp lực rõ rệt tại nhóm quốc doanh

0

Quý III vừa qua có thể nói là thời gian cao điểm nhất của dịch COVID-19. Với đợt bùng phát dịch lần thứ 4 này, nền kinh tế đã chịu những ảnh hưởng nặng nề, nhiều doanh nghiệp phá sản, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao…

Trải qua những tác động đó, tình hình nợ xấu của các ngân hàng là một vấn đề rất được quan tâm không chỉ trên khía cạnh đầu tư, mà bởi đây còn là một chỉ tiêu quan trọng phản ảnh sức khỏe của kênh dẫn vốn chủ đạo tại Việt Nam.

Theo số liệu từ báo cáo tài chính quý III/2021 vừa công bố, dư nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết cổ phiếu và giao dịch trên thị trường chứng khoán đã tăng lên con số 113.006 tỷ đồng tính đến 30/9/2021, tức cao hơn 26% so với thời điểm đầu năm. Số ngân hàng có nợ xấu tăng chiếm xấp xỉ 2/3.

Trong đó, Nam A Bank là nhà băng có nợ xấu tăng nhanh nhất toàn ngành với mức tăng gần 150% sau 9 tháng đầu năm. Nợ nhóm 5 của ngân hàng này đã tăng 147% lên gần 1.156 tỷ đồng; nợ nhóm 3 tăng hơn 273% lên hơn 515 tỷ đồng.

Xếp sau đó lần lượt là hai ngân hàng quốc doanh Vietcombank và VietinBank với quy mô nợ xấu tại thời điểm cuối quý III là 10.884 tỷ đồng (tăng 108,1%) và 18.097 tỷ đồng (tăng 90,1%). 

Riêng số nợ tăng thêm của hai “ông lớn” này trong 9 tháng đã lên tới 14.233 tỷ đồng, chiếm hơn 60% số nợ xấu tăng thêm của 27 ngân hàng. Với sự nhảy vọt này, tỷ lệ nợ xấu của Vietcombank đã tăng mạnh từ mức  0,62% lên 1,16%, VietinBank tăng từ 0,94% lên 1,67%.

Trong khi đó, “ông lớn” còn lại là BIDV lại có nợ xấu đi ngang ở mức 21.433 tỷ đồng. Song, quy mô nợ xấu của BIDV đang là lớn nhất trong số 27 ngân hàng kể trên, chiếm 1,61% tổng dư nợ cho vay khách hàng.

Nợ xấu của 27 ngân hàng trên sàn chứng khoán vượt 110.000 tỷ đồng, áp lực rõ rệt tại nhóm quốc doanh - Ảnh 1.

(Nguồn: Lê Huy tổng hợp từ báo cáo tài chính hợp nhất các ngân hàng).

Áp lực nợ xấu cũng tăng lên trông thấy tại một số ngân hàng tư nhân vốn được đánh giá có chất lượng tài sản khỏe mạnh như ACB và Techcombank. Trong ba quý đầu năm, dư nợ xấu của hai nhà băng này đã tăng xấp xỉ gấp rưỡi; tỷ lệ nợ xấu tại ACB đã tăng từ 0,59% lên 0,87%, còn của Techcombank tăng từ 0,47% lên 0,57%.

Theo thông tin từ SSI Research, tỷ lệ nợ xấu của Techcombank tăng nhanh trong thời gian qua chủ yếu xuất phát từ nhóm khách hàng cá nhân và doanh nghiệp vừa nhỏ; trong khi đó, ACB đã chủ động phân loại lại nợ của một khách hàng doanh nghiệp lớn có thể gặp khó khăn trong tương lai.

Ngoài ra, nhiều ngân hàng khác cũng có nợ xấu tăng trên 30% trong kỳ có thể kể tới như VBB (+58,5%), ABB (+46,5%), VIB (+34,8%), SHB (+34,6%)….

Ở chiều ngược lại, có thể thấy nợ xấu của Kienlongbank giảm mạnh 63% xuống còn 697 tỷ đồng. Điều này là kết quả của việc xử lý các khoản nợ xấu được đảm bảo bởi cổ phiếu STB của Sacombank.

Tuy nhiên, nếu so với cuối quý II, nợ xấu của Kienlongbank đã tăng thêm gần 190 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu đã tăng từ mức 1,43% lên 2%.

Với trường hợp của VPBank, nếu xét riêng ngân hàng mẹ, số dư nợ xấu chỉ tăng 4,2% lên 5.814 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu thậm chí giảm từ mức 2,52% xuống 2,28%. Tuy nhiên, ngân hàng cho biết hoạt động kinh doanh của công ty tài chính FE Credit bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh và giãn cách xã hội. Điều này đã khiến nợ xấu của FE Credit tăng mạnh thời gian qua.

Theo báo cáo hợp nhất (bao gồm của cả FE Credit), nợ xấu của VPBank đã tăng 28% trong 9 tháng đầu năm lên 12.702 tỷ đồng, qua đó kéo tỷ lệ nợ xấu từ mức 3,41% lên 4%.

Vẫn còn phần chìm của “tảng băng” nợ xấu

Tuy nhiên, nhưng con số trên mới chỉ thể hiện bề nổi của nợ xấu các ngân hàng, chí ít là những gì được thể hiện trên báo cáo tài chính.

Việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho phép các ngân hàng giữ nguyên nhóm nợ làm cho bức tranh nợ xấu chưa phản ánh đúng thực tế, nợ xấu tiềm ẩn từ số dư nợ được cơ cấu lại vẫn chưa thể hiện rõ ràng.

Tính đến cuối tháng 9, các TCTD đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ theo Thông tư 01 cho 278.000 khách hàng với dư nợ 238.000 tỷ đồng. Lũy kế giá trị nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ giữ nguyên nhóm nợ cho khách hàng từ 23/1/2020 khoảng 531.000 tỷ đồng, tương đương trên 5% tổng dư nợ toàn nền kinh tế.

Nợ xấu của 27 ngân hàng trên sàn chứng khoán vượt 110.000 tỷ đồng, áp lực rõ rệt tại nhóm quốc doanh - Ảnh 3.

Tỷ lệ nợ xấu ngân hàng qua các năm. (Nguồn: NHNN, DB tổng hợp).

Theo báo cáo Đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết 124 NHNN gửi Quốc hội, tính đến cuối tháng 6, tỷ lệ nợ xấu nội bảng là 1,73%, tăng so với mức 1,69% cuối năm 2020.

Nếu tính cả nợ bán cho VAMC chưa xử lý và các khoản tiềm ẩn trở thành nợ xấu là 3,66% và thêm cả các khoản nợ không bị chuyển nợ xấu do được cơ cấu lại theo Thông tư 01 thì tỷ lệ này là 7,21%. Cũng phải nhắc lại rằng, số liệu này mới cập nhật tới quý II/2021, trong khi quý III vừa qua mới là giai đoạn đỉnh điểm của dịch COVID-19.

Phó Thống đốc Nguyễn Kim Anh cho biết dưới ảnh hưởng của dịch COVID-19, tỷ lệ nợ xấu nội bảng và nợ xấu tiềm ẩn cuối năm 2021 dự kiến tăng lên xấp xỉ 8%, và những hệ luỵ của nó có thể kéo dài sang năm 2022.

Địa ốc phía Nam: Tăng trong nghi ngờ

0

Nhà đầu tư thận trọng

Ông Trương Anh Tuấn, một nhà đầu tư bất động sản tại TP. Thủ Đức (TP.HCM) kể rằng, trong quá trình đầu tư, ông đã từng chứng kiến không ít nhà đầu tư nắm giữ nhiều bất động sản nhưng đói vốn khi thanh khoản thị trường kém và “chết trên đống tài sản”.

“Đó là lý do dù đầu năm 2021, tôi đã mua 2 lô đất nền ở Đồng Nai và một căn chung cư ở quận Tân Phú (TP.HCM) với ý định sau khi đóng tiền từ 30-50% rồi mới tìm kiếm khách hàng để chuyển nhượng lại, thế nhưng sau khi đóng tiền chưa bao lâu thì dịch bùng phát trở lại khiến thanh khoản thị trường ngày càng kém, nên tôi chấp nhận cắt lỗ thật nhanh”, ông Tuấn kể.

Cũng theo nhà đầu tư này, mục đích anh muốn “phòng thủ” vì lo ngại dịch bệnh làm đảo lộn thị trường đầu tư, tính thanh khoản của các tài sản kém dần kể từ đợt bùng phát dịch lần thứ 4, lợi nhuận từ căn hộ cho thuê cũng suy giảm rất nhiều.

“Phòng thủ tiền mặt lúc này có thể linh hoạt lựa chọn các phân khúc sản phẩm ít rủi ro hơn, có tính thanh khoản cao hơn, đồng thời giải tỏa áp lực nợ xấu”, ông Tuấn nhấn mạnh.

Sự thận trọng này cũng là tâm lý chung của nhiều nhà đầu tư trên thị trường ở thời điểm hiện tại, ngay cả với những người mua ở thực cũng rất dè dặt. Báo cáo mới đây của DKRA Việt Nam cho thấy, trong quý III/2021, thị trường sơ cấp tại TP.HCM và một số địa phương lân cận chỉ có 2 dự án đất nền mở bán giai đoạn tiếp theo, cung ứng ra thị trường 118 nền đất, tỷ lệ tiêu thụ chỉ đạt 28 nền, sụt giảm rất mạnh cả về nguồn cung lẫn tỷ lệ tiêu thụ so với quý liền trước (2.913 nền cung cấp ra thị trường và 1.826 nền được giao dịch thành công).

Tương tự, thanh khoản trên thị trường thứ cấp cũng ở mức rất thấp, một số dự án và khu vực có xu hướng giảm giá cục bộ với mức giảm từ 5-7% so với thời điểm tháng 5.

Thanh khoản phân khúc căn hộ cũng không mấy khả quan khi CBRE Việt Nam dự báo, từ nay đến hết năm 2021, dự kiến chỉ có khoảng 6.000 căn hộ được đưa ra thị trường – mức thấp kỷ lục trong quý cuối năm những năm gần đây. Tuy nhiên, giá căn hộ dự báo vẫn tiếp tục tăng do nguồn cung hạn chế và các chi phí đầu vào như giá đất, chi phí vận hành, lao động, nguyên vật liệu xây dựng… đều tăng cao.

“Việc giá căn hộ tăng sẽ ảnh hưởng đến khả năng chi trả của người mua. Người mua cũng sẽ thận trọng hơn trước đây trong việc ra quyết định mua, dù là mua để ở hay để đầu tư. Tốc độ bán của các dự án được chào bán trong thời gian tới có thể sẽ lâu hơn so với trước”, bà Dương Thùy Dung, Giám đốc cấp cao CBRE Việt Nam nói.

Trong khi đó, đại diện một doanh nghiệp môi giới tại TP.HCM cho biết, mặc dù các chủ đầu tư đang chạy nước rút để đưa sản phẩm ra thị trường với nhiều chính sách ưu đãi, song tâm lý chung của nhiều khách hàng hiện nay là đề cao sự cẩn trọng, họ chỉ quan tâm đến những dự án được thi công liên tục, pháp lý hoàn chỉnh… để có thể nhận bàn giao ngay, chứ không muốn chờ đợi như trước.

Các bất động sản giá trị lớn có tỷ lệ hấp thụ rất thấp trên thị trường thứ cấp. Ảnh: Lê Toàn

Cơ hội không dành cho “tay mơ”

Theo ông Trần Khánh Quang, Tổng giám đốc Công ty Việt An Hòa, tính đến tháng 10/2021, lượng giao dịch bất động sản trên thị trường thứ cấp phía Nam giảm tới 90-95% so với cùng kỳ. Các bất động sản giá trị lớn từ 10-20 tỷ đồng được rao bán nhiều, nhưng tỷ lệ hấp thụ rất kém.

“Nhà đầu tư trước khi xuống tiền mua nhà đất giai đoạn sau giãn cách phải tính xem tài sản này mua xong rồi có bán được không, bởi mua dễ bán khó có thể được xem là tử huyệt đối với nhà đầu tư trong thời điểm nhạy cảm này, khi thị trường phụ thuộc rất lớn vào việc kiểm soát dịch bệnh”, ông Quang nói và cho rằng, nếu bán không được sau khi đã dốc hết vốn liếng, thậm chí dùng đến tiền vay, thì khả năng bị mắc kẹt là rất cao.

“Ở thời điểm này, điều nhà đầu tư cần nghĩ đến trước tiên là đảm bảo bất động sản đầy đủ pháp lý, kế đến là ưu tiên loại bất động sản có thanh khoản tốt để đảm bảo có thể thu hồi và quay vòng vốn nhanh, cuối cùng mới tính đến lợi nhuận”, ông Quang khuyến nghị.

Cùng góc nhìn, ông Trương Anh Tú, Phó tổng giám đốc PropertyX (thành viên Tập đoàn Hưng Thịnh) cũng nhấn mạnh, người mua nhà giai đoạn này cần rà soát thông tin một cách thận trọng hơn.

Tuy nhiên, theo ông Tú, bên cạnh rủi ro thanh khoản thấp giai đoạn sau giãn cách, cơ hội đầu tư bất động sản vẫn rất lớn khi Chính phủ đang thúc đẩy mạnh mẽ việc giải ngân vốn đầu tư công để phát triển kinh tế nói chung, tạo điều kiện cho thị trường bất động sản nhanh chóng hồi phục. Đáng chú ý, rổ hàng trên thị trường có nhiều sản phẩm để chọn lựa hơn trước, các chính sách bán hàng ưu đãi người mua để kích cầu khá đa dạng, từ giãn tiến độ đóng tiền đến ân hạn nợ gốc, hỗ trợ lãi vay…

“Hiện các gói ưu đãi kích cầu có xu hướng mở rộng và quy mô lớn hơn so với trước đây. Người mua nên kiểm tra kỹ pháp lý tài sản, uy tín, tiềm lực tài chính và kinh nghiệm của chủ đầu tư, sự phát triển cơ sở hạ tầng, tăng trưởng kinh tế địa phương… trước khi ‘chọn mặt gửi vàng’ để vừa tránh được rủi ro, vừa tận dụng được cơ hội thị trường”, ông Tú nói.

Trong khi đó, thận trọng là lời khuyên mà ông Sử Ngọc Khương, Giám đốc cấp cao Savills Việt Nam đưa ra đối với hoạt động đầu tư địa ốc từ nay tới cuối năm.

“Khi tham gia thị trường bất động sản thời điểm này, nhà đầu tư cần lưu ý 2 nguyên tắc phòng vệ. Một là cần xem xét đến tính thanh khoản của bất động sản trước khi nghĩ đến lợi nhuận. Hai là ưu tiên quản trị rủi ro, nên rà soát, sàng lọc các tiêu chí như rủi ro pháp lý, quy hoạch, rủi ro dòng tiền, rủi ro khi sử dụng đòn bẩy tài chính”, ông Khương khuyến nghị.

Trọng Tín

Lợi nhuận ngân hàng: Lãi giả “sướng” hơn lãi thật

0

Một số ngân hàng đã công bố kết quả kinh doanh 9 tháng đầu năm 2021 với những thông tin không tệ. Ông có bình luận gì?

Lợi nhuận các ngân hàng hiện vẫn cao chủ yếu do thực hiện Thông tư 01/2020/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước quy định về việc các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ; miễn, giảm lãi, phí; giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng do dịch Covid-19 đã giúp các tổ chức tín dụng tạm thời chưa phải trích lập dự phòng rủi ro (mà trải dài trong 3 năm), nên giảm được chi phí. Theo đó, tôi cho rằng, con số lợi nhuận cao mà các ngân hàng công bố đó chính là lãi dự thu (lợi nhuận dự kiến) và nếu trừ đi khoản này, lợi nhuận của ngân hàng sẽ giảm mạnh.

Ngoài ra, không loại trừ khả năng các ngân hàng cố tình công bố lợi nhuận cao để kích thích giá cổ phiếu tăng lên. Khi các ngân hàng thương mại chia cổ tức, phần lớn đều không chia bằng tiền mặt (một phần vì yêu cầu của cơ quan quản lý và một phần vì thực tế lãi dự thu nghĩa là không có tiền thực để trả) mà bằng cổ phiếu. Cổ đông mang cổ phiếu ra thị trường bán để thu tiền về, biến lãi giả thành lãi thật nhờ thị trường chứng khoán.

Theo ông, các cổ đông liệu có biết khả năng ngân hàng cố tình công bố lãi cao?

Chỉ số chứng khoán đã tăng hơn 2 lần kể từ tháng 4/2020, cổ phiếu nhiều ngân hàng đã tăng gấp 3 trong cùng thời gian, điều đó có nghĩa 10.000 đồng cổ phiếu bán ra được 30.000 đồng. Cổ đông biết lợi nhuận được công bố cao, giá cổ phiếu tăng mang lại lợi ích cho chính họ. Phương thức chia cổ tức bằng cổ phiếu trước đây là câu chuyện “bị” phản ứng dữ dội tại các kỳ họp đại hội đồng cổ đông thì nay là cách “được” cổ đông ủng hộ và thấy hạnh phúc, vì lãi giả “sướng” hơn lãi thật. Do vậy, đương nhiên lợi nhuận ngân hàng công bố càng cao thì cổ đông càng hưởng lợi, dù rằng cổ đông nhỏ lẻ được lợi ít, mà chủ yếu là cổ đông lớn với món lợi lên đến hàng nghìn tỷ đồng.

Nhưng vẫn còn nhiều ngân hàng chưa công bố kết quả kinh doanh và ước tính của không ít lãnh đạo ngân hàng là lợi nhuận sẽ giảm do nền kinh tế gặp khó khăn bởi đại dịch?

Theo thông tin tôi được biết, nợ cơ cấu theo Thông tư 01/2020/TT-NHNN và Thông tư 03/2021/TT-NHNN hiện nay đạt trên 400.000 tỷ đồng, dự kiến con số này sẽ còn lớn hơn trong thời gian tới. Nguyên do bởi diễn biến phức tạp của đại dịch, sức khỏe của doanh nghiệp suy yếu, không riêng lĩnh vực giao thông vận tải, du lịch, mà còn rất nhiều lĩnh vực khác. Có những đơn vị sản xuất – kinh doanh hiệu quả trước đây, dù có đơn hàng, có hợp đồng vẫn phải ngừng sản xuất – kinh doanh, đóng cửa do công nhân bị nhiễm bệnh. Nền kinh tế và doanh nghiệp bị ảnh hưởng sẽ tác động trực tiếp đến ngân hàng, nợ xấu ngân hàng sẽ phát sinh và gia tăng.

Theo đó, những ngân hàng cho vay “sân sau” ít sẽ công bố đúng kết quả kinh doanh hiện tại là lãi ít, thậm chí suy giảm và ngược lại. Tôi muốn chia sẻ thêm là những ngân hàng cho vay tập trung vào doanh nghiệp “sân sau” nhiều thì với quy định của Ngân hàng Nhà nước về việc giãn, hoãn, chuyển nhóm nợ sẽ giúp ích cho ngân hàng và doanh nghiệp “sân sau”, chứ không hẳn là lợi ích mang lại cho nền kinh tế. Tình hình dịch bệnh khiến nợ xấu tăng mạnh, nếu trích lập dự phòng rủi ro đúng ngay bây giờ sẽ “đánh” thẳng vào lợi nhuận các ngân hàng.

Nợ xấu là mối nguy cho chính các ngân hàng và cả nền kinh tế trong tương lai?

Đúng vậy, như tôi vừa chia sẻ, câu chuyện giãn hoãn nợ nếu dừng lại là các ngân hàng “ăn đòn”, còn các ông chủ ngân hàng chủ yếu lo cho “con ruột” là doanh nghiệp của mình và ngân hàng mãi chỉ là “con nuôi”.

Một vấn đề có liên quan đó là dù chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của dịch bệnh Covid-19 nhưng Bộ Tài chính cho biết, ngân sách nhà nước vẫn bội thu trong 9 tháng đầu năm 2021. Cụ thể, thu ngân sách đảm bảo tiến độ dự toán và tăng so với cùng kỳ năm ngoái, nhờ đà tăng trưởng của nền kinh tế từ những tháng cuối năm 2020; một số ngành, lĩnh vực được hưởng lợi từ chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, người dân, nên duy trì được mức tăng trưởng khả quan như ngân hàng, chứng khoán, bất động sản… Điều này có nghĩa, ngân sách nhà nước đang thu được từ khối ngân hàng đến từ lãi dự thu không phải là nhỏ.

Ngân hàng Nhà nước: Nếu tính cả các khoản nợ được cơ cấu, nợ xấu ngân hàng đã lên tới 7,21%

0

Ngân hàng Nhà nước vừa có Báo cáo Đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết 124/2020/QH14 của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2021, nhiệm vụ, giải pháp năm 2022 của ngành Ngân hàng gửi Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội, trong đó liên quan đến câu chuyện xử lý nợ xấu, Báo cáo cho biết, đến cuối tháng 6/2021, tỷ lệ nợ xấu nội bảng là 1,73% (cuối năm 2020 là 1,69%).

Trong 6 tháng đầu năm 2021, tổng số nợ xấu nội bảng được xử lý là 78.860 tỷ đồng, trong đó sử dụng dự phòng rủi ro là 33.130 tỷ đồng, chiếm 42%; thông qua bán nợ là 18.660 tỷ đồng, chiếm 23,7%; khách hàng trả nợ là 20.550 tỷ đồng, chiếm 26,11%.

Tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ bán cho VAMC chưa xử lý và các khoản tiềm ẩn trở thành nợ xấu đến cuối tháng 6/2021 là 3,66%. Nếu tính cả các khoản nợ không bị chuyển nợ xấu do được cơ cấu lại, miễn, giảm lãi theo Thông tư 01/2020/TT-NHNN do ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 thì tỷ lệ này là 7,21% (cuối năm 2020 là 5,08%).

Liên quan đến xử lý nợ xấu được xác định theo Nghị quyết 42 của Quốc hội, Báo cáo cho biết, lũy kế từ 15/08/2017 đến 30/6/2021, đã xử lý được 359.410 tỷ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42. Trong đó, xử lý nợ xấu nội bảng (không bao gồm xử lý bằng sử dụng dự phòng rủi ro và bán nợ cho VAMC thông qua phát hành trái phiếu đặc biệt là 187.180 tỷ đồng (chiếm 52,08% tổng nợ xấu đã xử lý).

Xử lý các khoản nợ đang hạch toán ngoài bảng cân đối kế toán xác định theo Nghị quyết 42 là 93.630 tỷ đồng (chiếm 26,05%); xử lý các khoản nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42 đã bán cho VAMC được thanh toán bằng trái phiếu đặc biệt là 78.600 tỷ đồng (chiếm 21,87%).

Bên cạnh đó, đến thời điểm 30/6/2021, các tổ chức tín dụng đã sử dụng 179.570 tỷ đồng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu nội bảng và bán nợ xấu cho VAMC thông qua phát hành trái phiếu đặc biệt đạt 35.930 tỷ đồng.

Theo Báo cáo, trước khi có Nghị quyết 42, nợ xấu của toàn hệ thống các tổ chức tín dụng chủ yếu được xử lý bằng dự phòng rủi ro, các biện pháp xử lý nợ xấu thông qua xử lý tài sản đảm bảo và khách hàng trả nợ còn chưa cao. Tuy nhiên, kể từ khi Nghị quyết 42 có hiệu lực từ 15/8/2017 đến 30/6/2021, xử lý nợ xấu nội bảng xác định theo Nghị quyết 42 chủ yếu thông qua hình thức khách hàng trả nợ là 138.340 tỷ đồng (chiếm 38,5% tổng nợ xấu theo Nghị quyết 42 đã xử lý), cao hơn nhiều tỷ trọng nợ xấu được xử lý do khách hàng tự trả nợ/tổng nợ xấu đã xử lý trung bình năm từ 2012 – 2017 là khoảng 22,8%.

Cũng theo Ngân hàng Nhà nước, trước tình hình phức tạp của dịch Covid-19, Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng đánh giá thực trạng nợ xấu để xây dựng kế hoạch xử lý nợ xấu bảo đảm phù hợp với diễn biến dịch bệnh; đồng thời, tiếp tục tích cực nâng cao chất lượng tài sản, kiểm soát chất lượng tín dụng, hạn chế phát sinh nợ xấu mới; tự xử lý nợ xấu bằng các biện pháp đôn đốc khách hàng trả nợ; bán, phát mại tài sản bảo đảm của khoản nợ; bán nợ theo cơ chế thị trường; sử dụng dự phòng rủi ro…

Những sự thật thú vị về TTCK

0

Những sự thật thú vị về TTCK mà nhà đầu tư mới f0 có thể chưa biết

1. Trừ thứ bảy và chủ nhật thì tất cả các ngày trong tuần đều là ngày T+3

2. Không ai mong muống thị trường giảm hơn người đang cầm tiền và cũng chẳng ai mong thị trường lên hơn người cầm cổ.

Hai thế lực này sẽ chỉ thôi đối đầu nhau khi TTCK không còn tồn tại.

3. Bạn cầm tiền không sai – Bạn cầm cổ cũng không sai.

Việc sai là bạn không hiểu sao lại cầm tiền sao lại cầm cổ.

4. Các cổ phiếu tăng trần mất thanh khoản thì sẽ giảm sàn cũng mất thang khoản.

5. Nếu tự nhiên bạn bán sàn khớp khả năng trúng đáy cao – Nếu tự nhiên mua trần khớp khả năng bị úp bô cao

6. Doanh nghiệp tốt thì cổ phiếu sẽ tăng giá – Nhưng cổ phiếu tăng giá có thể chả kinh doanh gì.

7. Phân tích kỹ thuật vẽ được thì Phân tích cơ bản cũng vẽ được.

Nếu cái gì đó thấy rõ quá thì là do ai đó muốn ta thấy nó.

Hãy thận trọng với những thứ được tô vẽ tâng bốc quá đẹp

8. Nếu hôm nay bạn không mua cổ – Đưng sợ mất cổ mà đua lệnh vì giá vài tuần sau có thể quay lại

Nếu bạn sợ mất cổ và đua lệnh – Đừng vui vì có thể bạn sẽ mất tiền

Cổ phiếu trên sàn thì vô hạn – Tiền Bạn có hạn

Hãy sợ mất tiền thay vì mất cổ

9. Tham bát bỏ mâm là cách nhà đầu tư ham các khoản lơiu nhuận nhỏ giao dịch T0 liên tục một cổ phiếu mình đang lãi.

Thật may mắn nếu bạn đúng 10 lần nhưng nếu bạn sai 1 lân có thể bạn sẽ mất hết lãi.

Quá trình lướt cổ phiếu giống như quá trình nâng cao dần giá vốn. Rủi ro giá vốn cao hơn và hàng chưa về hãy thận trọng.

10. Bạn không thể thay đổi thị trường nhưng thị trường chắc chắn có thể thay đổi số dư tài khoản của hạn.

11. Nếu một ngừoi hô bạn Mua/Bán hay Long/Short

hãy thận trọng việc họ hô và việc họ làm là không như nhau.

12. Đa số các khoản lợi nhuận hàng chục thậm chí 100% đều trải qua thời gian nắm giữ 6-9 tháng. Nếu bạn chỉ cầm cổ 6-9 ngày hãy bỏ qua mục tiêu này

13. Hãy đảm bảo mình ít cổ phiếu hơn khi thị trường tăng nóng và nhiều sức mua nhất khi thị trường giảm

14. Trung bình cứ 3 tháng Vnindex sẽ chỉnh nhỏ và 6 tháng chỉnh lớn

15. Các lý do khi thị trường giảm đa số là giống nhau- các lý do khi thị trường tăng có thể đa dạng hơn .

Nhưng thị trường có biến động tăng tốt hơn trong thời gian trống tin

16. Tin ra là bán hay tin ra là tăng tuỳ thuộc đặc tính thói quen của cổ phiếu . Nhưng đa số tin ra là bán

17. Những dự báo thị trường lên xuống sẽ luôn có nhưng việc bạn thích đọc tin nào hơn đa số do việc bạn cầm tiền hay cổ. Hãy thận trọng với các tin tốt khi cổ đã tăng và tìm kiếm ở tin xấu khi giá đã giảm sâu

Tin xấu ra tại đáy > giá k giảm > đáy

tin tốt ra tại đỉnh > giá k tăng > đỉnh

18. Khối ngoại tác động nhiều nhất lên Vn30 vì có nhiều ngoại xịn. Còn lại là tây ninh tây bắc nhiều

19. Đa số nhà đầu tư theo tin đồn – tin nội bộ là thua lỗ

20. Đa số nhà đầu tư sẽ lãi nếu đầu tư thử size nhỏ nhưng lúc đầu tư size lớn thì thua lỗ.

Hành vi tăng size đầu tư cũng sẽ thay đổi hành vi cut lỗ hay chốt lời. Hãy tăng cường độ từ từ tránh tăng shock size đầu tư

21. Đa số nhà đầu tư thường không rút lãi vì tin vào lãi kép. Tuy nhiên TTCK lỗ kép lãi nhiều hơn.

Hãy giữ số lãi lại và đặt đôi chân trên mặt đất nếu bạn đang thành công

23. Việc hô TT lên hay xuống chắc chắn một ngày sẽ đúng.Hãy cẩn thận với những ngươit hô hào quá tiêu cực hay tích cực.

24. CHO ĐẾN KHI BẠN RÚT CHÂN KHỎI SÒNG – HÃY LUÔN CẨN THẬN VỚI SỰ TỤ MÃN CỦA BẠN- CHƯA RA KHỎI SÒNG CHƯA BIẾT AI GIÀU HƠN AI

“Sưu tầm”

Các phương pháp định giá cổ phiếu

0

Nếu đã tham gia vào đầu tư chứng khoán thì công thức xác định giá trị cổ phiếu là điều bắt buộc các nhà đầu tư phải nắm được. Từ đó ra quyết định đầu tư, nếu giá bán trên thị trường thấp hơn đáng kể giá trị định giá đó, sau đó đợi chờ và bán ra khi giá tiệm cận giá trị thực và thu về lợi nhuận.

1. Định giá cổ phiếu theo phương pháp P/E:

– Tỷ lệ P/E là từ viết tắt của Price to Earning. Theo các chuyên gia, nguyên tắc đơn giản nhất khi áp dụng cách định giá cổ phiếu theo phương pháp P/E là tỷ lệ càng thấp thì lợi nhuận khi đầu tư vào doanh nghiệp đó càng cao và thời gian thu hồi vốn cũng ngắn hơn.
– Công thức tính chỉ số P/E:
 
P/E= Giá thị trường / EPS
 
Trong đó:
P (viết tắt của Market Price): Giá thị trường tại một thời điểm giao dịch.
EPS (viết tắt của Earning Per Share): Lợi nhuận ròng của một cổ phiếu.
– Để áp dụng cách định giá cổ phiếu theo phương pháp P/E thông thường có 2 cách:
• So sánh với các công ty khác hoạt động cùng lĩnh vực.
• So sánh với tỷ lệ P/E của công ty đó trước đây.

2. Định giá cổ phiếu theo phương pháp P/B:

– Cách định giá cổ phiếu theo tỷ lệ P/B là viết tắt của Price to Book là chỉ số dùng để so sánh giá trị thị trường của cổ phiếu và giá trị theo sổ sách của cổ phiếu đó.
– Công thức định giá cổ phiếu theo phương pháp P/B:
P/B = Giá cổ phiếu thị trường / Thư giá của 1 cổ phiếu
– Cách định giá cổ phiếu. Nếu chỉ số này nhỏ hơn 1 có nghĩa là giá trị tài sản thực tế của công ty đang bị thổi phồng quá mức hoặc tổng thu nhập trên tài sản của công ty đang ở mức quá thấp. Ngược lại, nếu chỉ số P/B cao nghĩa là công ty đang làm ăn tốt.

3. Định giá theo phương pháp chiết khấu cổ tức:

– Chiết khấu cổ tức hay tỷ suất cổ tức là tỷ lệ cổ tức trả bằng tiền mặt so với giá cổ phiếu. Vậy ta có công thức:
Chiết khấu cổ tức = Cổ tức bằng tiền / Thị giá.
– Ví dụ: Khi NĐT mua cổ phiếu sẽ nhận được thông tin cổ phiếu đó trả cổ tức x%/ năm, tức là NĐT sẽ nhận được cổ tức bằng x% giá trị thực (mệnh giá) của cổ phiếu đó.

4. Định giá cổ phiếu theo phương pháp chiết khấu dòng tiền:

– Phương pháp định giá cổ phiếu chiết khấu dòng tiền được dựa trên một nguyên lý cơ bản: tiền có giá trị theo thời gian, giá trị một đồng tiền của ngày hôm nay luôn có giá trị hơn một đồng tiền của ngày mai, một đồng đầu tư vào trong doanh nghiệp (DN) này có mức sinh lời khác với một đồng đầu tư trong DN khác.
– Công thức tính chiết khấu dòng tiền là:
PV = FV / (1 + r)^n
– Với: r là suất chiết khấu, n là số năm.
PV là viết tắt của Present Value: Giá trị thực tại của cổ phiếu.

5. Định giá cổ phiếu theo phương pháp P/S:

– Chỉ số P/S (Price/Sales per share – hay price to ratio) là chỉ số dùng để định giá cổ phiếu nhằm đo lường giá cổ phiếu trên doanh thu mỗi cổ phần. Tên gọi khác như tỷ số P/S hay hệ số P/S.
– Công thức tính P/S
P/S = Giá cổ phiếu/ Doanh thu mỗi cổ phần.
– Trong đó:
Doanh thu mỗi CP = Tổng doanh thu/ Số lượng cổ phiếu lưu hành
Hoặc: P/S = Tổng vốn hóa/Tổng doanh thu thuần
– Trong đó:
• P = Price = Market price: Giá cổ phiếu tại thời điểm hiện tại
• S = Sales per share: Doanh thu thuần trên mỗi cổ phiếu.

6. Định giá cổ phiếu theo phương pháp PEG:

– Chỉ số PEG là một chỉ số tài chính quan trọng. Chỉ số PEG thể hiện mối quan hệ giữa chỉ số P/E (giá/thu nhập) so với tỷ số tăng trưởng G của thu nhập (EPS).
– Công thức tính chỉ số PEG là:
PEG = PE/G
– Với:
• PE: Tức là chỉ số P/E
• G: Tốc độ tăng trưởng trong tương lai (%)
– Ta có:
PEG hợp lý = PE/G = 1.
– Khi cổ phiếu có Giá (P) để tạo nên: PEG = 1, thì được xem là giá trị thực của cổ phiếu.
– Hệ quả:
• PEG > 1: Giá cổ phiếu cao hơn giá trị thực
• PEG = 1: Giá cổ phiếu đúng bằng giá trị thực
• PEG < 1: Giá cổ phiếu thấp hơn giá trị thực
– Khi nào chỉ số PEG âm:
• P/E âm, tức là doanh nghiệp làm ăn lỗ.
• G âm, tức là lợi nhuận năm tương lai, ít hơn hiện tại & quá khứ.

7. Định giá cổ phiếu kết hợp giữa Peter Lynch & John Neff:

– Đây là công thức kết hợp giữa cổ tức & tốc độ tăng trưởng. Những cổ phiếu phù hợp sử dụng công thức này, là những doanh nghiệp ổn định, tăng trưởng không cao (<10%/năm) & trả cổ tức tương đối.

– Công thức đó là:

(R + G) / PE > 1,5

– Chỉ số này càng cao càng tốt

– Trong đó:

• R: Tỷ suất cổ tức (%)

R = Cổ tức bằng tiền (VNĐ)/ Giá cổ phiếu hiện tại

• G: Tốc độ tăng trưởng dài hạn (%)

• PE: Chỉ số P/E của cổ phiếu

TRÒ CHƠI CON MỰC (SQUID GAME 2021) : Một bộ phim các Trader nên xem để thấy được hình ảnh của mình trong đó

0

Tôi – một chây đờ. Kể từ khi bước chân vào thị trường tài chính với vị thế của một người giao dịch nên hầu như thời gian là dành cho nghiên cứu, quan sát, phân tích và nhận định thị trường. Một chút thời gian rảnh thì đọc sách, xem phim, du lịch, giao lưu… Phim tôi thường xem xoay quanh hai nội dung hoặc là giải trí để tạo cho tinh thần thoải mái hoặc là phim tạo động lực như: Yes Man, After Sock, The Notebook, Nhật Ký tình yêu, Tình yêu đích thực, người đàn bà đẹp, Titanic, Wall E, 50 firt dates, Mưu Cầu hạnh phúc, Hướng đạo sinh, AI – trí tuệ nhân tạo, district 9… rất ít khi xem mấy phim bộ kiểu Hàn Quốc (mặc dù 10 năm trước rất thích và là con nghiện phim Hàn).

Một tuần trở lại đây thấy mọi người nhắc nhiều đến một bộ phim có tên “TRÒ CHƠI CON MỰC – SQUID GAME). Thú thực nghe cái tên không mấy thu hút cộng thêm phim bộ Hàn Quốc nên tôi không chú ý vì xem sẽ mất thời gian vô ích.

Nhưng rồi vào tối qua, do nhiều ngày ngồi quan sát diễn biến thị trường Crypto Currency – thị trường tài chính tôi lựa chọn giao dịch trong năm 2021 đang trong giai đoạn Sideway tích lũy, không có nhiều cơ sở cho việc giao dịch nên tôi quyết định thử xem phim “TRÒ CHƠI CON MỰC” xem có gì mà hot thế? Chủ đích là xem nửa tập 1 nếu không có gì thì lại quay lại đọc tài liệu hoặc xem mấy phim nằm lòng của mình. Nhưng rồi khi xem phim đã cuốn hút khiến tôi xem một mạch 7 tập (tôi không nhớ là bắt đầu xem từ khi nào nhưng khi tôi thấy buồn ngủ thì đã là 5h sáng). Tôi xem phim mà quên luôn cả trận cầu C1 giữa MU và Villarreal mà định sẽ xem vì là Fan của CR7.

Thú thật nội dung phim không quá mới mẻ hấp dẫn. Tình tiết không quá gay cấn cao trào. Diễn viên không quá đẹp và nổi tiếng. Nhưng điều khiến tôi bị cuốn là “SAO NHỮNG GÌ DIỄN RA TRONG PHIM LẠI GIỐNG NHƯ NHỮNG GÌ CÁC CHÂY ĐỜ ĐANG TRẢI QUA ĐẾN THẾ?”.

Nội dung phim là một trò chơi sinh tồn, người chơi là đầy đủ mọi tầng lớp, lứa tuổi, trình độ như: kỹ sư, bác sĩ, công nhân, lưu mạnh, con bạc, linh mục, già, trẻ, nhân tài, không có học thức, người vô giá cư… điểm chung của tất cả người chơi là họ cần tiền, rất nhiều tiền và tham gia trò chơi nếu chiến thắng họ sẽ có được số tiền hơn cả những gì họ muốn, số tiền rất rất lớn cho người chiến thắng và cách chơi thì vô cùng đơn giản chỉ là tham gia những trò chơi dân gian mà trẻ thơ ai cũng từng chơi qua, người vượt qua trò chơi thì đi tiếp, người không vượt qua thì bị loại và cứ thế trải qua 6 vòng chơi là 6 trò chơi dân gian và tìm ra 1 người chiến thắng duy nhất với giải thưởng là số tiền khổng lồ. Khi xem đến đây tôi đã thấy sao mà giống như thị trường giao dịch tài chính quá vậy. Người tham gia cũng đầy đủ mọi lứa tuổi, địa vị, trình độ và đều vì tiền, kiếm được rất nhiều tiền, và sẽ giải quyết được tất vả mọi vấn đề mà mình đang mắc phải, mà cách thức tham gia thì cực kỳ đơn giản (như những gì mà đa số những Newbe nghĩ).

Nhưng khi trò chơi bắt đầu, những người đầu tiên bị loại, bị bắn và ngã xuống máu chảy ra thì các người chơi mới hiểu được bị loại đồng nghĩa với cái chết. Đám đông bắt đầu hoảng loạn để rồi liên tục phạm quy và bị loại. Sau trò chơi đầu tiên các người chơi sống sót đã thấy sợ và không muốn tham gia tiếp, sau một cuộc bỏ phiếu mọi người được trả lại về cuộc sống bình thường như chưa có gì xảy ra. Nhưng sau đó họ lại quyết định quay lại tham gia trò chơi vì cho rằng nếu không có số tiền kia thì họ cũng không thể tồn tại được ở cuộc sống này. Điều này mình lại liên tưởng đến các Newbe, khi mới tham gia thì khí thế rất cao, và nghĩ là sẽ dễ dàng kiếm được số tiền lớn, vẽ ra đủ mọi kế hoạch ước mơ nhưng sau khi có những thất bại đầu tiên họ bắt đầu hoang mang hoảng loạn. Có người thì như con thiêu thân lao vào đến chết, có người thì bỏ cuộc không bao giờ dám quay lại thị trường, có người thì sau khi từ bỏ lại quay lại dù biết sắc xuất chiến thắng là rất nhỏ.

Ở lần đầu thì phim không chi tiết quá trình đưa mọi người đến nơi tập kết trò chơi mà rất nhanh cho chúng ta thấy khung cảnh của trò chơi và vào trò chơi đầu tiên. Điều này giống với những người mới tham gia thị trường đều rất nhanh chóng khi mà chưa kịp hiểu chuyện gì xảy ra. Nhưng ở lần thứ hai khi các người chơi chấp nhận quay lại để tiếp tục trò chơi thì được quay chi tiết cảnh di chuyển mọi người. Nơi tổ chức trò chơi là một hòn đảo nằm giữa biển, mọi người được đón bằng xe oto, đánh thuốc mê, lên thuyền và ra đảo. Đoạn này mình lại liên tưởng đến các hội nhóm thường hô hào “LÊN THUYỀN” “VỀ BỜ” nhưng xem phim thì các bạn sẽ hiểu “LÊN THUYỀN” là “RA ĐẢO” “ANH ĐI XA LẮM” đó nha.

Những người chơi bắt đầu biết tạo nhóm, thu thập thông tin, dự đoán các diễn biến tiếp theo và hỗ trợ nhau để vượt qua các trò chơi tiếp theo. Điều này mình liên tưởng đến việc các Newbe sau khi vấp ngã bắt đầu biết để chiến đấu với thị trường cần có thông tin, kiến thức và bắt đầu tham gia vào các diễn đàn, group mong được chia sẻ thông tin, được nhận kèo.

Sau khi được biết các người chơi ngoài việc bị loại do thất bại ở các vòng chơi họ còn có thể tự loại bỏ lẫn nhau thế là các kế hoạch lại được lập lên để loại bỏ nhau. Cái này mình liên tưởng đến việc sau khi tham gia vào thị trường biết là giao dịch khó có thể chiến thắng nhiều người đã tham gia vào các mô hình lừa đảo, dùng mưu mô thủ đoạn để kiếm tiền từ người khác.

Khi đêm xuống không ai dám ngủ vì có thể bị loại bỏ bất cứ lúc nào bởi những người chơi khác. Đoạn này mình lại liên tưởng đến việc khi Newbe hoặc những người trade lướt sóng vào lệnh xong là thấp thỏm mất ăn mất ngủ vì luôn sợ bị cháy tài khoản.

Ở những phần chơi đồng đội thì ai cũng chọn người mạnh, và không muốn chơi cùng người già và phụ nữ. Cái này không có liên tưởng nhiều đến việc giao dịch nhưng mình lại liên tưởng đến việc xã hội nói là hướng đến công bằng, văn mình nhưng những người yếu thì luôn bị kỳ thị và thiệt thòi.

Ở trò chơi kéo co đa số nghĩ phần thắng sẽ thuộc về team mạnh với thành phần là những người đàn ông khỏe mạnh thì team được cho là yếu nhất lại vượt qua với thành phần là người già, phụ nữ và người đang có thương tật vì họ có kế hoạch, chiến lược và ứng biến tốt khi tình hình không thuận lợi. Đoạn này làm mình nghĩ đến trong trade hầu như đa số trade theo những gì họ nghĩ và thường theo cảm tính, không có sẵn các các kế hoạch các tình huống và vì thế không có được phản ứng kịp thời và đúng đắn với diễn biến của thị trường nên luôn bị động và bị nuốt.

Ở trò chơi cầu kính lúc này còn 16 người chơi và chọn ví trí bằng các số từ 1 – 16 cũng là thứ tự đi qua chiếc cầu bằng các ô kính trong 30p. Cầu gồm các ô kình đan xen giữ kính thường và kính cường lực. Nên chỉ cần lựa chọn nhảy sai chỗ là rơi xuống và die. Ở trò chơi này mình thấy có nhiều bài học nhất cho các Chây thủ. Khi tham gia thị trường chúng ta luôn phải đưa ra lựa chọn nhưng chỉ cần 1 sai lầm chí mạng là sẽ bị loại, dù bạn đúng cả chục lần trăm lần nhưng sai 1 lần là có thể Die. Đám đông luôn sợ hãi và tìm một người dò đường để đi theo thế mới sinh ra các group cho kèo. Người nóng vội sẽ đi đầu ( vào lệnh sớm) chấp nhận rủi ro cao, người thận trọng sợ hãi thì tìm ng để đi theo. Đoạn này có 2 nhân vật đáng chú ý(mình không nhớ tên và số) một người thì nghĩ là mình đã biết được cách tìm ra đâu là kính cường lực và rất tự tin với cú nhảy của mình nhưng kết quả là rơi xuống (cái này khá phổ biến trong giới chây đơ khi học được một công cụ, một hệ thống giao dịch mới thì rất tự tin và nghĩ là đã có chén thánh và all in rồi chết không kịp gáp). Một người nữa do có kinh nghiệm làm mấy chục năm trong công ty kính nên dựa vào tán xạ của đèn và tiếng động khi gõ vào kính a ta có thể phân biệt được nhưng khi người tạo lập trò chơi phát hiện ra thì tắt hết đèn đi và a ta không sử dụng được khả năng của mình nữa. Nhân vật này cũng gặp nhiều trong thị trường khi một người trong một thời điểm nào đó phán đóan được thị trường như ý mình nhưng khi thị trường thay đổi thì anh ta không biết phải làm gì và Die. Mình nhớ đến câu “KHI BẠN TÌM RA CHÌA KHÓA ĐỂ MỞ CÁNH CỬA THỊ TRƯỜNG THÌ THỊ TRƯỜNG LẬP TỨC THAY ĐỔI Ổ KHÓA”.

Trải qua 5 vòng chơi từ 456 người chơi chỉ còn lại 3 người. Một nhân tài tốt nghiệp trường đại học danh tiếng là niềm tự hào cả 1 khu nhưng vì ham mê Futures mà dùng hết tiền công quỹ rồi cắm hết tài sản của gia đình đang bị công an truy lùng. Một anh chàng vô công rồi nghề, ham cá ngựa, ăn bám mẹ già, ngờ nghệch tốt bụng và luôn giúp đỡ người yếu nên hay gặp may mắn và được người khác giúp lại cần tiền trả nợ và chữa bệnh cho mẹ. Một cô gái cần tiền để cùng em trai đang ở trại trẻ mồ côi đi tìm mẹ. Ba con người này đại diện cho những người có thể trụ lâu được trên thị trường: người bị dồn vào đường cùng nhưng có đầu óc trí tuệ, người luôn gặp may mắn nhờ có sự tốt bụng biết giúp đỡ người gặp khó, người có mục đích mục tiêu rõ ràng và kiên định. Để đi đến vòng chơi cuối cùng thì họ cũng đã te thua bầm dập và thương tích đầy mình cũng giống như các Chây thủ càng ở trên thị trường lâu thì càng phải trải qua những cơn bão của thị trường quật te tua bầm dập.

Đoạn cuối của phim khi mà anh chàng chiến thắng nói chuyện với người tạo lập trò chơi, các câu thoại của ông già làm mình sởn hết da gà và phải suy nghĩ:

“CẬU CŨNG BIẾT KIẾM TIỀN SAO RỒI? KIẾM TIỀN KHÔNG PHẢI DỄ”

“TIỀN CẬU CÓ ĐƯỢC LÀ DO SỰ MAY MẮN VÀ CHĂM CHỈ”

“CẬU CÓ BIẾT NGƯỜI KHÔNG CÓ TIỀN VÀ NGƯỜI CÓ RẤT NHIỀU TIỀN ĐỀU CÓ ĐIỂM CHUNG KHÔNG? ĐÓ LÀ CUỘC SỐNG KHÔNG CÓ NIỀM VUI”

“TÔI KHÔNG ÉP BUỘC AI PHẢI THAM GIA TRÒ CHƠI ĐÓ HẾT”

Kết phim anh chàng chiến thắng không thể sống như mong muốn mặc dù đã có trong tay số tiền khổng lồ lại quyết định quay lại tham gia trò chơi lần tiếp khi biết nó lại được tổ chức. Đây cũng là kết cục của những người đã chiến thắng trên thị trường, sẽ rất khó từ bỏ. Dù có từ bỏ vì bị thất bại hay giành chiến thắng thì cũng sẽ quay lại.

Đây là một bộ phim không quá hay và đặc sắc nhưng mình thấy các Chây Đờ nên xem. Cá nhân mình sau khi xem phim và liên kết với công việc giao dịch, mình rút ra được các kết luận:

“KIẾM TIỀN KHÔNG DỄ ĐẶC BIỆT LÀ TRONG THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH, NHƯNG VÌ LỢI NHUẬN CAO NÊN MỌI NGƯỜI BẤT CHẤP NGUY HIỂM THAM GIA”

“THỊ TRƯỜNG KHÔNG NHƯ CHÚNG TA NGHĨ MÀ PHỤ THUỘC VÀO CÁC NHÀ TẠO LẬP (Ở ĐÂY CÓ THỂ HIỂU LÀ CÁ MẬP) NHƯNG ĐA SỐ CHÂY ĐỜ ĐỀU TẬP TRUNG VÀO DỰ ĐOÁN THỊ TRƯỜNG MÀ KHÔNG LÊN TRƯỚC KẾ HOẠCH, VẼ RA CÁC KỊCH BẢN VÀ CÓ CÁC PHƯƠNG ÁN, CHIẾN LƯỢC XỬ LÝ”

“ĐỐI DIỆN GIỮA ĐƯỢC, MẤT VÀ DƯỚI ÁP LỰC THỜI GIAN CHÚNG TA SẼ KHÔNG KIỂM SOÁT VÀ LÀM CHỦ ĐƯỢC TÂM LÝ BẢN THÂN NÊN SẼ NÓNG VỘI VÀ ĐƯA ĐẾN NHỮNG QUYẾT ĐỊNH SAI LẦM”

“ĐỂ CÓ THỂ CHIẾN THẮNG VÀ KIẾM ĐƯỢC TIỀN TRÊN THỊ TRƯỜNG, ĐẦU TIÊN BẠN CẦN PHẢI TỒN TẠI CÀNG LÂU CÀNG TỐT”

#LeeWon